Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014
Thứ Năm, 28 tháng 8, 2014
Tâm trạng khi đọc bài thơ về mùa thu
Mãi Một Mùa Thu
Có phải gió làm cho màu lá đổi
có phải mây làm cho nắng phai đi
có phải em cùng mái tóc thầm thì
rủ thu lại cho đất trời tim tím
Ta ngồi cuối bậc thang đời trang điểm
lại dung nhan se sắt đã bao năm
nghe trên vai má lụa thuở em nằm
nhìn hoa cúc mùa thu đầu gặp mặt
Nắng hôm đó vàng thơm trong lòng mắt
gió như hơi từ những cánh môi hoa
em tan dần trong nhịp đập tim ta
ta chìm lẫn trong hương em thanh thoát
Tình tuyệt hảo bởi nhờ thu dào dạt
đến giữa ngày mắt biếc kiếm tìm nhau
giữa hạt mưa mướt ấm nụ hôn đầu
chúng ta đã cùng thu chung làm một
Em hẳn nhớ con vành khuyên đứng hót
giữa cành xanh lá chớm ngả vàng tơ
ta mấy lần giấy bút định làm thơ
tại em đẹp làm vần phai điệu nhạt
Thu bát ngát tình chúng ta bát ngát
em yêu ơi, đời mãi mãi mùa thu
hãy nằm ngoan nghe bốn hướng trời ru
ta trôi giữa không gian hoa với láThứ Ba, 26 tháng 8, 2014
Tuyệt tác kiến trúc cầu Ngói cổ đẹp nhất Việt Nam
Cổ kính, trang nhã,
không mai một theo thời gian, cầu Ngói ở xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam
Định được biết đến là một trong ba cây cầu cổ đẹp nhất Việt Nam vẫn còn lưu giữ
lại cho đến nay.
Cầu Ngói của đất Quần Anh xưa được tổ
tiên xây bắc trên con sông Trung Giang vào năm Hồng Thuận Tam niên, tức năm
1511, tức là khi công việc lấn biển khẩn hoang đã hoàn thành.
Qua nhiều lần trùng tu, vào năm 1864
cầu được lợp ngói và cho đến nay vẫn giữ được nguyên dáng vẻ cổ kính của tổ
tiên xã xưa để lại. Theo đôi câu đối ở cầu thì tứ tổ đã quan tâm xây dựng cầu
ngay từ những ngày đầu tiến hành công việc khẩn hoang:
“Lê Hồng Thuận tứ tính thủy mưu –
Giã biệt thành giang thượng lộ - Hoàng Khải Định thất niên trùng tấp – Dư lương
y cựu kính trung đề” (được dịch nghĩa là: Đời Hồng Thuận bốn họ tính kế
dựng nhà trên cầu, thành đường trên nước. Đời Khải định thứ bảy tu sửa như cũ,
từng bậc xếp nên gương).
Lần trùng tu lớn nhất vào năm 1922. Khi
ấy, do điều kiện lịch sử và những hạn chế nhất định nên đã làm cho cây cầu không
còn giữ được vẻ nguyên vẹn phong cách kiến trúc của thế kỷ 17. Xong Cầu Ngói
vẫn là một nét kiến trúc cổ kính và độc đáo trên đất Nam Định cho đến ngày nay.
Cầu Ngói vắt ngang qua sông Hoành.
Vào năm 2010, cầu đã được Nhà nước cho
khôi phụ, trùng tu lại, toàn bộ mái ngoài vẫn giữ nguyên lớp ngói cũ, còn lớp
ngói màn bên trong do đã quá hỏng nên phải thay lớp mới, nâng quy mô để hợp với
cảnh quan của chùa Phúc Lâm.
Cầu vắt ngang qua sông Hoành chạy dọc
xã Quần Anh xưa. Kiểu dáng thuộc loại “Thượng gia hạ kiều” (trên là nhà,
dưới là cầu). Các cụ già ở địa phương thì gọi là “Thượng gia hạ trì”
(trên là nhà, dưới là sông nước). Người thợ tài hoa xưa kia đã tạo tác ra kỹ
thuật nửa lợp, nửa xây làm nên dáng mái đẹp tựa con rồng đang bay.
Tuy các mảng chạm khắc không nhiều và
có phần đơn giản, chỉ bằng các hàng soi đường chỉ ở các vì kèo, các con bảy,
hàng xà, ván đinh tạo hình con bướm đầu con song để tạo dáng lá đề... nhưng
cũng thể hiện rõ nét tài hoa của nghề Mộc cổ truyền trên đất Quần Anh.
Các cột đá vuông của cầu có kích thước mỗi cạnh 35cm, xếp thành
6 hàng cột để gánh 6 vỉ, đỡ toàn bộ 9 gian nhà cầu.
Hai bên lòng cầu là hai dãy hành lang uốn cong theo thành cầu.
Phía trong hành lang cũng được ghép ván, là nơi khách bộ hành có thể dừng chân
để nghỉ ngơi ngắm cảnh sông nước làng quê.
Phần sàn của lòng cầu rộng 2m gồm nhiều thanh gỗ lim ghép lại
nằm trên hàng dầm uốn cong, đồng thời có nhiều thanh gỗ ngắn hơn vút tròn cạnh
tạo thành nhiều gờ nổi để khách bộ hành lên xuống đỡ bị trượt chân.
Tấm biển giới thiệu khu di tích cầu Ngói.
Đôi câu đối ở đầu hai bên cầu.
Tuy trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, nhưng cây cầu Ngói cổ của
đất Quần Anh xưa vẫn giữ được vẻ đẹp mộc mạc, cổ kính từ ngàn đời xưa.
Thứ Bảy, 23 tháng 8, 2014
Mẫu linh vật của Việt Nam
Trước tình trạng sư tử
ngoại lai vào các di tích, đền, chùa, công sở..., Cục Mỹ thuật Nhiếp ảnh và
Triển lãm đã giới thiệu các mẫu linh vật canh cửa thuần Việt để công chúng nhận
biết.
Người Việt dùng linh vật Việt
Sau công văn số 2662/BVHTTDL-MTNATL được Bộ VH,TT&DL
gửi tới các ban ngành nhằm “khuyến cáo” về linh vật biểu tượng ngoại lai. Chiều
19/8, Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm (MT,NA&TL) cũng gửi tiếp công
văn số 352/MTNATL về việc giới thiệu các mẫu tượng linh vật của Việt Nam. Những
hình ảnh linh vật Việt được đăng tải trên Thethaovanhoa.vn và website Cục
MT,NA&TL khiến công chúng ngỡ ngàng.
Đằng sau
những vẻ đẹp mang trầm tích ấy là những nỗ lực không ngừng nghỉ của Bộ
VH,TT&DL, Cục MT,NA&TL cùng sự chung tay của những người nghiên cứu di
sản mỹ thuật cổ.
Tượng nghê đá thế kỷ 17. Ảnh do PGS-TS Trần Lâm Biền cung cấp
Gửi hình ảnh linh vật Việt tới từng địa phương
“Văn bản Cục chúng tôi tham mưu cho lãnh đạo Bộ được Thứ
trưởng Đặng Thị Bích Liên ký hôm 8/8 về việc “Không sử dụng biểu tượng, sản
phẩm, linh vật không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam” là kết quả của
quá trình nghiên cứu của anh em quản lý khá lâu rồi” - ông Vi Kiến Thành, Cục
trưởng Cục MT,NA&TL (Bộ VH,TT&DL) trao đổi vớiTT&VH.
Ông Thành nói
tiếp: “Đặc biệt, trong thời gian qua, các cơ quan báo chí đã rất tích cực đưa
vấn đề này ra để xã hội quan tâm, thảo luận. Trước thực tế bức thiết, chúng tôi
thấy đã đến lúc gửi một văn bản tham mưu lãnh đạo Bộ để gửi các địa phương đề
nghị có những biện pháp xử lý những biểu tượng, vật phẩm, linh vật không
phù hợp thuần phong mỹ tục Việt Nam”.
Ông Vi Kiến
Thành cũng là người trực tiếp ký kịp thời công văn về việc giới thiệu các mẫu
tượng linh vật của Việt Nam ngay sau công văn “khuyến cáo” của Bộ VH,TT&DL.
Theo ông Thành, để có được văn bản đi kèm những hình ảnh thông tin nhanh như
vậy, phải kể đến sự đóng góp nhiệt thành của những người nghiên cứu mỹ thuật,
di sản, và các cơ quan truyền thông.
“Những mẫu
linh vật cổ vẫn tồn tại ở khắp dặm dài đất nước. Và với sự giúp đỡ vô tư, nhiệt
tình của những người yêu di sản, chúng tôi hiện tại đang sở hữu một khối lượng
khá lớn những hình ảnh, thông tin về những linh vật biểu tượng của người Việt ở
các đình, chùa, lăng, đền. Những hình ảnh này được tổng hợp và chắt lọc thành
20 hình ảnh, với chú thích đầy đủ niên đại, đi kèm công văn của Cục” - ông Vi
Kiến Thành nói.
Cũng theo
chia sẻ của ông Thành, Cục đã gửi văn bản trên tới Sở VH,TT&DL của các địa
phương, để các đơn vị tư vấn với tỉnh, thành phố tham khảo cũng như có cơ sở để
vào cuộc mạnh tay với linh vật ngoại lai tại các di tích lịch sử văn hóa.
Thứ Tư, 20 tháng 8, 2014
Facebook thử nghiệm công nghệ phân biệt thật-giả trong tin tức
Facebook thử nghiệm công nghệ phân biệt thật-giả trong tin tức
Facebook khẳng định họ đang thử nghiệm một công nghệ cho phép gắn mác "châm biếm" cạnh những tin tức được chế ra như thật.
Người dùng mạng xã hội facebook đang bối rối trước việc có quá nhiều tin tức châm biếm xuất hiện bên cạnh các tin tức thật, và họ không có cách nào phân biệt. Trước thực tế đó, hãng này hôm qua tuyên bố rằng họ đang thử nghiệm một công nghệ cho phép gắn mác "châm biếm" lên các đường dẫn (link) đến các trang có nội dung châm biếm.
"Chúng tôi nhận được nhiều phản hồi yêu cầu phải có cơ chế phân biệt rõ ràng các loại tin tức thật và tin chế" - phát ngôn viên của Facebook nói. Hiện chưa rõ công nghệ sẽ vận hành theo thuật toán nào. Nhưng nhiều khả năng nó sẽ chỉ vận hành với các trang nổi tiếng về châm biếm, ví dụ như The Onion của Mỹ.
Nội dung châm biếm trên facebook thường xuyên tạo ra những đợt sóng dư luận. Vài tuần trước, nhiều tờ báo đã đồng loạt đăng lại thông tin một phi công của Ukraine thừa nhận bắn rơi máy bay MH17 - gây hoang mang dư luận. Trong khi đó, tin này được đưa ra bởi một trang "tin chế" của Đức.
Hãng thông tấn CCTV của Trung Quốc từng đăng tin "ông Kim Jong-Un được bầu là người đàn ông sexy nhất hành tinh" mà không hề biết rằng đó là tin được một website của Mỹ chế ra để châm biếm nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên.
Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014
Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2014
Các thể loại tranh ở Việt Nam
Các bạn thích thể loại tranh gì A hay B
Tranh Sơn mài:
Tranh vẽ trên nến vóc gọi là tranh Sơn mài. Vóc là ván gỗ hoặc ván ép được sơn nhiều lần và bọc nhiều lớp vải, mỗi lần sơn bọc một lớp vải, ủ khô và mài phẳng. Quy trình thực hiện một tấm vóc gồm nhiều công đoạn tỉ mỉ, phức tạp mất khoảng 20 đến 30 ngày với số lần sơn và bó vải từ 8 đến 10 lần. Vóc thường do thợ sơn lành nghề thực hiện. Hoạ sĩ dùng sơn ta để trộn các loại bột màu, phối hợp với các loại vàng, bạc, vỏ trứng... để thực hiện tác phẩm. Ngoài trình độ nghệ thuật, hoạ sĩ Sơn mài phải có một trình độ kỹ thuật rất cao. Qua nhiều lần vẽ, hong khô, mài phẳng. Sau khi định hình tác phẩm, bức tranh được phủ lên một lớp sơn sau cùng, hong khô (ủ kín) và mài để màu sắc hiện ra, mài phải rất cẩn thận vì nếu để lộ phần vóc tranh ra thì xem như hỏng. Mài xong dùng tay xoa bột than để mặt tranh bóng dần. Thời gian thực hiện một tác phẩm có kích thước nhỏ, đơn giản cũng phải mất từ 15 đến 20 ngày. Những tác phẩm lớn có khi phải mất vài tháng, vài năm.
Tranh Sơn dầu:
Còn gọi là tranh màu dầu hoặc tranh dầu Là loại tranh vẽ lấy chất liệu vẽ để làm tên gọi. Sơn dầu có nguồn gốc từ phương Tây, được du nhập vào Việt Nam khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Hoạ sĩ Lê Văn Miến là người Việt Nam đầu tiên học kỹ thuật vẽ màu dầu tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Paris, ra trường và về nước năm 1895. Năm 1925, trường Mỹ thuật Đông Dương khai giảng, môn hội hoạ Sơn dầu là một trong các môn học chính. Vẽ tranh Sơn dầu có thể sử dụng nhiều loại mặt nền như vải, gỗ, giấy, kính, kim loại... nhưng phổ biến và được các họa sĩ chuộng nhất là mặt nền vải bố làm từ sợi lanh, sợi bông do phương Tây sản xuất. Từ khi được phổ biến ở Việt Nam Sơn dầu nhanh chóng được đa số hoạ sĩ yêu thích, đặc tính ưu việt của nó giúp hoạ sĩ thực hiện được những ý tưởng sáng tạo phức tạp nhất.
Tranh Lụa:
Là loại tranh lấy mặt nền để vẽ làm tên gọi. Lụa vẽ thích hợp nhất là loại lụa tơ tằm, mịn hoặc hơi thô, dệt thủ công hoặc dệt máy. Màu dùng để vẽ thường là màu nước và mực nho, tuỳ theo phong cách riêng của từng hoạ sĩ, có khi sử dụng thêm phẩm màu, màu bột, phấn màu... Nguyên tắc chung khi vẽ lụa là không đắp màu dày, phải để thớ lụa phô vẻ óng ánh vốn có của nó. Tranh lụa có cái đẹp dịu dàng thầm trầm đem đến cho người xem một cảm giác dễ chịu, sâu lắng và thanh thoát. Tranh chân dung Nguyễn Trãi và chân dung Phùng Khắc Khoan là hai bức tranh lụa xưa nhất ở nước ta, có từ đời Lê (chưa rõ tác giả). Tranh nghệ thuật vẽ trên lụa được hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh thử nghiệm thành công khi ông học ở trường Mỹ thuật Đông Dương khoảng thập nên 30 thế kỷ 20 và ông được xem là người khai phá loại hình tranh lụa hiện đại Việt Nam. Tranh lụa Nguyễn Phan Chánh mang phong vị đặc biệt Việt Nam, đồng thời phù hợp với quan niệm hội hoạ hiện đại phương Tây. Các hoạ sĩ kế tiếp như Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu đã góp thêm phần làm phong phú hoàn hão kỹ thuật vẽ tranh lụa, và làm cho nghệ thuật tranh lụa Việt Nam có một vị thế đặc biệt độc đáo, không thể lẫn vời tranh lụa Trung Quốc hay Nhật Bản.
Tranh Khắc gỗ (còn gọi là tranh mộc bản)
Dùng kỹ thuật khắc ván để tạo những đường nét, hình ảnh mà hoạ sĩ mong muốn sau đó lấy bản gỗ khắc được in lên nền giấy, bức tranh giấy có được gọi là tranh khắc gỗ. Tranh khắc gỗ có nguồn gốc từ Trung Quốc, xuất phát từ kỹ thuật in chữ rời để tạo thành sách, ở nước ta các nghệ nhân in tranh dân gian đã dùng phương pháp khắc gỗ ván để in thành ảnh với số lượng lớn. Các hoạ sĩ đã học tập cách làm trong dân gian để thực hiện các tác phẩm nghệ thuật, chất gỗ và thớ gỗ tạo nhiều thuận lợi cho hoạ sĩ tìm hiểu và sáng tạo Tranh in gỗ nét không bị cứng, không sắc cạnh, màu sắc xốp và tạo nhiều hiệu quả bất ngờ, làm sinh động ngôn ngữ hội hoạ. Các tác phẩm tranh khắc nổi tiếng như ''Gội đầu'' của Trần Văn Còn, ''Đi mưa'', ''chị bạn rươi'' của Nguyễn Gia Trí, ''Hai cô gái Mường'' của Nguyễn Văn Tỵ, ''Thuyền trên sông Hồng'' của Đỗ Đức Thuận, ''Ngày chủ nhật'' của Nguyễn Tiến Chung, ''Hái cà phê '' của Lương Xuân Nhi... là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị không kém các tác phẩm thuộc thể loại Sơn dầu, Sơn mài hay tranh lụa. Bộ tranh khắc gỗ về phong tục Việt Nam đồ sộ nhất ở nước ta thuộc về bộ tranh trong tác phẩm ''Kỹ thuật của người An Nam'' gồm 4 577 bản vẽ khắc gỗ của Henri Oger thực hiện khoảng năm l908 đến 1909 tại Hà Nội.
Tranh Giấy Dó:
Loại tranh được vẽ lên nền là Giấy Dó. Giấy Dó là một loại giấy truyền thống do người Việt làm ra, có độ bền, dẻo dai, hút nước nhanh, màu ngà vàng, được làm bằng phương pháp thủ công với nguyên liệu chủ yếu là vỏ cây Dó. Ngày xưa giấy dó dùng để in sách viết chữ nho hoặc in tranh dân gian, khoảng những năm 30 thế kỷ 20 các hoạ sĩ trường Mỹ thuật Đông Dương sử dụng để vẽ ký hoạ, phác thảo sau phát triển dần thành một thể loại tranh độc lập. Chất liệu để vẽ lên nền giấy đó là mực nho, màu nước, phẩm màu, bột màu. Giấy Dó là một sản phẩm thủ công đặc trưng của Việt Nam, nên tranh Giấy Dó được các hoạ sĩ ưa thích khi xây dựng những tác phẩm thuộc đề tài truyền thống dân tộc. Vài mươi năm nay tranh Giấy Dó Việt Nam được giới sưu tập trong và ngoài nước chú ý. Các hoạ sĩ khai thác thành công thể loại tranh Giấy Dó có thể kể: Nguyễn Doãn Tuân với các bức ''Mài Sắn'' 1957, ''Tre và chuối'' 1961; Nguyễn Hoành với bức ''Bến lu Lái Thiêu''; Đỗ Đức với ''Thị trấn ven rừng'' 1995; Trần Nguyên Đán với bức ''Hội An'' 1996.
Tranh màu nước:
Tranh dùng chất liệu là màu nước để thực hiện. Màu nước có nguồn gốc từ phương Tây, được chế tạo từ những màu bột khô loại mịn nhất, nghiền đều với các chất kết dính và hoàn chỉnh dưới dạng keo sền sệt đựng trong ống thiết mềm hoặc nén dưới dạng bảnh khô thành thỏi vuông hoặc tròn. Màu nước có đặc tính trong trẻo, nhẹ nhàng, pha bằng nước lã, vẽ từ nhạt dần đậm dần, pha màu bằng cách chồng màu lên nhau. Khi vẽ tranh màu nước không vẽ dày quá hoặc di đi di lại thiều lẩn để tránh vẩn đục mặt tranh. Giấy vẽ màu nước có loại đặc chủng dành riêng, dày, xốp, mặt thường ráp nhiều hoặc ít. Màu nước còn được dùng để vẽ trên lụa (gọi là tranh lụa), dùng để vẽ ký hoạ, vẽ các mẫu trang trí.
Tranh mực nho:
Mực Nho còn gọi là mực Tàu (do người Trung Quốc làm ra) có màu đen nhánh, tranh mực Nho thường chỉ dùng để ký hoạ hoặc vẽ các mẫu trang trí. Mực Nho thường được nén thành thỏi (vuông, tròn, trụ, chữ thập) khi vẽ phải mài với nước trong một vật đựng bằng đá (nghiên). Mực Nho ngày nay còn được sản xuất ở dạng nước, đựng trong lọ, khi dùng chỉ chế ra chén. Mực Nho ngày xưa dùng để viết chữ nho, từ đó mà có tên gọi là mực nho. Mực nho vẽ được lên vải, lụa, giấy dó, giấy xuyến chỉ và giấy của phương Tây, khi vẽ mực nho có thể dùng bút lông Tàu hoặc dùng bút lông của phương Tây. Các hoạ sĩ thường sử dụng mực nho để ký hoạ, vẽ chân dung, ít khi xây dựng một tác phẩm lớn.
Tranh màu bột:
Màu bột là màu khô ở dạng bột, khi vẽ pha với keo hoặc hồ. Màu bột thường dùng là bột hoá chất, lấy từ các khoáng chất như trong kẽm, lam Cô ban (cobalt) đỏ Camium (Cadmium), vàng Crôm (Chrome)... Màu được nghiền (ít hoặc nhiều tuỳ theo màu) bằng bút lông hoặc pha màu trên bảng pha màu trước khi vẽ. Màu bột khi vẽ có hiệu quả riêng, đậm hơn màu nước, tươi trong hơn màu dầu lại có vẻ mềm mại mát mắt. Màu bột không được vẽ dày quá dễ bị bong tróc hoặc rạn nứt. Màu bột có thể vẽ lên giấy, bìa cứng, vải, gỗ... Nếu vẽ lên giấy mỏng thì phải bồi giấy lên mặt ván phẳng.
Tranh Phấn tiên (Pastel):
Còn gọi là phấn màu, phấn tiên được pha chế sẵn và nén thảnh thỏi dài như lên phấn viết bảng. Màu sắc của phấn tiên không giống màu bột và màu nước, nó có màu sáng, dịu và xốp hơn. Phấn tiên để vẽ tranh có hai loại, phấn khô và phấn dầu, phấn màu khô vẽ lên giấy hơi dày và xốp để màu da bám chất, khi vẽ xong phải phun lên một lớp keo mỏng để tránh rụng phấn và nhòe màu. Phấn màu dầu tiện sử dụng hơn, có thể vẽ lên nhiều loại giấy thông thường, màu bám chắc và có độ bóng. Phấn màu dầu là loại chất liệu thông dụng của học sinh nhỏ: các bé trường mầm non, mẫu giáo.
Ký hoạ:
Vẽ nhanh một hình mẫu trước mắt bằng những đường nét đơn gián, diễn tả được đặc điểm, hình dạng, cử chỉ hoạt động của người, vật, hoặc cánh vật diễn ra trong thực tế. Đối với các hoạ sĩ, ký hoạ là cách lấy tài liệu hay nhất, vừa lưu giữ được những hình ánh sẽ đi qua vừa luyện được kỹ năng linh hoạt trong bút pháp. Bức ký hoạ tốt và sinh động cũng được coi là một tác phẩm hoàn chỉnh.
Tranh Thuỷ mặc:
Tranh có nguồn gốc từ Trung Quốc, ban đầu chỉ dùng mực pha với nước để vẽ lên lụa hoặc giấy, mực và nước theo tỷ lệ khác nhau cho các sắc độ khác nhau nên tranh thuỷ mặc cũng sinh động như tranh màu. Về sau, tranh thuỷ mặc được điểm thêm các màu nhẹ, cũng gọi theo tên ban đầu là tranh thuỷ mặc. Người Trung Quốc sở trường lối vẽ thuỷ mặc do có truyền thống lâu đời. Hoạ sĩ Tề Bạch Thạnh chỉ dùng sắc độ đậm nhạt của mực vẽ những bức tranh Tôm, Cua sống động nhảy nhót như thật. Tranh Thuỷ mặc và thư pháp là nghệ thuật độc đáo và tiêu biểu trong nền văn hoá Trung Hoa.
Tranh thư pháp:
Thuật viết chữ đẹp. Dùng bút lông viết chữ lên nền giấy xuyến chỉ hoặc lụa, diễn tả chữ viết theo góc độ nghệ thuật. Các thể chữ thường dùng để thực hiện một bức thư pháp là Triện, Lệ, Khái (Chân), Hành, Thảo. Tạo nét chữ đẹp, sinh động, sắp xếp các chữ, các dòng chữ theo bố cục truyền thống hoặc sáng tạo, có sức hấp dẫn người xem thì được xem là một tác phẩm thư pháp.Thư pháp khác với một văn bản chép chữ hoặc viết chữ thông thường (như một văn bản hành chính, một trang sách...). Tranh trang trí: Một thể loại tranh ít tạo khối, không diễn tả ánh sáng, ít diễn tả chất, ít chú ý đến bút pháp, rét và hình tượng thường được cách điệu khá trau chuốt. Trong tranh trang trí màu được sử dụng theo dạng phẳng, chủ yếu là biến đổi hình thể cho phong phú, kết hợp với đường nét chọn lọc. Màu sắc trong tranh trang trí thường tươi, sáng, có thể dùng màu nguyên chất, chủ yếu khai thác sự tương phản phong phú của màu sắc và hình thể để gợi lên vẻ đẹp của ánh sáng và không gian trong tranh. Tranh trang trí như đã trình bày là tranh nghệ thuật mang phong cách trang trí, hoặc trong tranh có nhiều yếu tố trang trí. Còn một cách hiểu khác là tranh trang trí là một loại tranh dùng để trang trí cho một địa điểm hay một thời điểm nào đó, để làm đẹp cho một không gian nhất định, như là với mục đích sử dụng cho phù hợp với không gian kiến trúc.
Tranh dân gian:
Tranh có nguồn gốc từ dân gian, do các nghệ nhân và những người thợ ở các làng nghề làm tranh làm ra, có lịch sử lâu đời và phân bố rải rác khắp cả nước. Nổi tiếng hơn cả là tranh làng Đông Hồ, thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh; tranh Hàng Trống, Kim Hoàng ở Hà Nội và tranh làng sình ở xã Phú Mậu huyện Phú Vang (Hương Phú tỉnh Thừa Thiên Huế. Tranh dân gian phục vụ cho nhu cầu tín ngưỡng của người bình dân, nhu cầu làm đẹp nhà cửa trong dịp lễ tết, có vẻ đẹp bình dị chất phác, thường được sản xuất hàng loạt theo lối in khắc gỗ. Đề tài trong tranh dân gian thường là chúc tụng, thờ cúng, cảnh vật, lịch sử, sinh hoạt xã hội, châm biếm đả kích hay tuyên truyền cổ động. Tranh dân gian có đặc tính chung là màu sắc tươi vui đường nét đơn giản, có cái đẹp hồn nhiên. Nhiều bức thư: tranh gà, tranh lợn, thầy đồ cóc, chuột vinh quy... đã trở nên thân quen thú vị, trẻ con, người lớn, bình dân, trí thức khi xem đều thấy thích thú bởi sự giản dị, hóm hỉnh của nó.
Tranh Sơn mài:
Tranh vẽ trên nến vóc gọi là tranh Sơn mài. Vóc là ván gỗ hoặc ván ép được sơn nhiều lần và bọc nhiều lớp vải, mỗi lần sơn bọc một lớp vải, ủ khô và mài phẳng. Quy trình thực hiện một tấm vóc gồm nhiều công đoạn tỉ mỉ, phức tạp mất khoảng 20 đến 30 ngày với số lần sơn và bó vải từ 8 đến 10 lần. Vóc thường do thợ sơn lành nghề thực hiện. Hoạ sĩ dùng sơn ta để trộn các loại bột màu, phối hợp với các loại vàng, bạc, vỏ trứng... để thực hiện tác phẩm. Ngoài trình độ nghệ thuật, hoạ sĩ Sơn mài phải có một trình độ kỹ thuật rất cao. Qua nhiều lần vẽ, hong khô, mài phẳng. Sau khi định hình tác phẩm, bức tranh được phủ lên một lớp sơn sau cùng, hong khô (ủ kín) và mài để màu sắc hiện ra, mài phải rất cẩn thận vì nếu để lộ phần vóc tranh ra thì xem như hỏng. Mài xong dùng tay xoa bột than để mặt tranh bóng dần. Thời gian thực hiện một tác phẩm có kích thước nhỏ, đơn giản cũng phải mất từ 15 đến 20 ngày. Những tác phẩm lớn có khi phải mất vài tháng, vài năm.
Tranh Sơn dầu:
Còn gọi là tranh màu dầu hoặc tranh dầu Là loại tranh vẽ lấy chất liệu vẽ để làm tên gọi. Sơn dầu có nguồn gốc từ phương Tây, được du nhập vào Việt Nam khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Hoạ sĩ Lê Văn Miến là người Việt Nam đầu tiên học kỹ thuật vẽ màu dầu tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Paris, ra trường và về nước năm 1895. Năm 1925, trường Mỹ thuật Đông Dương khai giảng, môn hội hoạ Sơn dầu là một trong các môn học chính. Vẽ tranh Sơn dầu có thể sử dụng nhiều loại mặt nền như vải, gỗ, giấy, kính, kim loại... nhưng phổ biến và được các họa sĩ chuộng nhất là mặt nền vải bố làm từ sợi lanh, sợi bông do phương Tây sản xuất. Từ khi được phổ biến ở Việt Nam Sơn dầu nhanh chóng được đa số hoạ sĩ yêu thích, đặc tính ưu việt của nó giúp hoạ sĩ thực hiện được những ý tưởng sáng tạo phức tạp nhất.
Tranh Lụa:
Là loại tranh lấy mặt nền để vẽ làm tên gọi. Lụa vẽ thích hợp nhất là loại lụa tơ tằm, mịn hoặc hơi thô, dệt thủ công hoặc dệt máy. Màu dùng để vẽ thường là màu nước và mực nho, tuỳ theo phong cách riêng của từng hoạ sĩ, có khi sử dụng thêm phẩm màu, màu bột, phấn màu... Nguyên tắc chung khi vẽ lụa là không đắp màu dày, phải để thớ lụa phô vẻ óng ánh vốn có của nó. Tranh lụa có cái đẹp dịu dàng thầm trầm đem đến cho người xem một cảm giác dễ chịu, sâu lắng và thanh thoát. Tranh chân dung Nguyễn Trãi và chân dung Phùng Khắc Khoan là hai bức tranh lụa xưa nhất ở nước ta, có từ đời Lê (chưa rõ tác giả). Tranh nghệ thuật vẽ trên lụa được hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh thử nghiệm thành công khi ông học ở trường Mỹ thuật Đông Dương khoảng thập nên 30 thế kỷ 20 và ông được xem là người khai phá loại hình tranh lụa hiện đại Việt Nam. Tranh lụa Nguyễn Phan Chánh mang phong vị đặc biệt Việt Nam, đồng thời phù hợp với quan niệm hội hoạ hiện đại phương Tây. Các hoạ sĩ kế tiếp như Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu đã góp thêm phần làm phong phú hoàn hão kỹ thuật vẽ tranh lụa, và làm cho nghệ thuật tranh lụa Việt Nam có một vị thế đặc biệt độc đáo, không thể lẫn vời tranh lụa Trung Quốc hay Nhật Bản.
Tranh Khắc gỗ (còn gọi là tranh mộc bản)
Dùng kỹ thuật khắc ván để tạo những đường nét, hình ảnh mà hoạ sĩ mong muốn sau đó lấy bản gỗ khắc được in lên nền giấy, bức tranh giấy có được gọi là tranh khắc gỗ. Tranh khắc gỗ có nguồn gốc từ Trung Quốc, xuất phát từ kỹ thuật in chữ rời để tạo thành sách, ở nước ta các nghệ nhân in tranh dân gian đã dùng phương pháp khắc gỗ ván để in thành ảnh với số lượng lớn. Các hoạ sĩ đã học tập cách làm trong dân gian để thực hiện các tác phẩm nghệ thuật, chất gỗ và thớ gỗ tạo nhiều thuận lợi cho hoạ sĩ tìm hiểu và sáng tạo Tranh in gỗ nét không bị cứng, không sắc cạnh, màu sắc xốp và tạo nhiều hiệu quả bất ngờ, làm sinh động ngôn ngữ hội hoạ. Các tác phẩm tranh khắc nổi tiếng như ''Gội đầu'' của Trần Văn Còn, ''Đi mưa'', ''chị bạn rươi'' của Nguyễn Gia Trí, ''Hai cô gái Mường'' của Nguyễn Văn Tỵ, ''Thuyền trên sông Hồng'' của Đỗ Đức Thuận, ''Ngày chủ nhật'' của Nguyễn Tiến Chung, ''Hái cà phê '' của Lương Xuân Nhi... là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị không kém các tác phẩm thuộc thể loại Sơn dầu, Sơn mài hay tranh lụa. Bộ tranh khắc gỗ về phong tục Việt Nam đồ sộ nhất ở nước ta thuộc về bộ tranh trong tác phẩm ''Kỹ thuật của người An Nam'' gồm 4 577 bản vẽ khắc gỗ của Henri Oger thực hiện khoảng năm l908 đến 1909 tại Hà Nội.
Tranh Giấy Dó:
Loại tranh được vẽ lên nền là Giấy Dó. Giấy Dó là một loại giấy truyền thống do người Việt làm ra, có độ bền, dẻo dai, hút nước nhanh, màu ngà vàng, được làm bằng phương pháp thủ công với nguyên liệu chủ yếu là vỏ cây Dó. Ngày xưa giấy dó dùng để in sách viết chữ nho hoặc in tranh dân gian, khoảng những năm 30 thế kỷ 20 các hoạ sĩ trường Mỹ thuật Đông Dương sử dụng để vẽ ký hoạ, phác thảo sau phát triển dần thành một thể loại tranh độc lập. Chất liệu để vẽ lên nền giấy đó là mực nho, màu nước, phẩm màu, bột màu. Giấy Dó là một sản phẩm thủ công đặc trưng của Việt Nam, nên tranh Giấy Dó được các hoạ sĩ ưa thích khi xây dựng những tác phẩm thuộc đề tài truyền thống dân tộc. Vài mươi năm nay tranh Giấy Dó Việt Nam được giới sưu tập trong và ngoài nước chú ý. Các hoạ sĩ khai thác thành công thể loại tranh Giấy Dó có thể kể: Nguyễn Doãn Tuân với các bức ''Mài Sắn'' 1957, ''Tre và chuối'' 1961; Nguyễn Hoành với bức ''Bến lu Lái Thiêu''; Đỗ Đức với ''Thị trấn ven rừng'' 1995; Trần Nguyên Đán với bức ''Hội An'' 1996.
Tranh màu nước:
Tranh dùng chất liệu là màu nước để thực hiện. Màu nước có nguồn gốc từ phương Tây, được chế tạo từ những màu bột khô loại mịn nhất, nghiền đều với các chất kết dính và hoàn chỉnh dưới dạng keo sền sệt đựng trong ống thiết mềm hoặc nén dưới dạng bảnh khô thành thỏi vuông hoặc tròn. Màu nước có đặc tính trong trẻo, nhẹ nhàng, pha bằng nước lã, vẽ từ nhạt dần đậm dần, pha màu bằng cách chồng màu lên nhau. Khi vẽ tranh màu nước không vẽ dày quá hoặc di đi di lại thiều lẩn để tránh vẩn đục mặt tranh. Giấy vẽ màu nước có loại đặc chủng dành riêng, dày, xốp, mặt thường ráp nhiều hoặc ít. Màu nước còn được dùng để vẽ trên lụa (gọi là tranh lụa), dùng để vẽ ký hoạ, vẽ các mẫu trang trí.
Tranh mực nho:
Mực Nho còn gọi là mực Tàu (do người Trung Quốc làm ra) có màu đen nhánh, tranh mực Nho thường chỉ dùng để ký hoạ hoặc vẽ các mẫu trang trí. Mực Nho thường được nén thành thỏi (vuông, tròn, trụ, chữ thập) khi vẽ phải mài với nước trong một vật đựng bằng đá (nghiên). Mực Nho ngày nay còn được sản xuất ở dạng nước, đựng trong lọ, khi dùng chỉ chế ra chén. Mực Nho ngày xưa dùng để viết chữ nho, từ đó mà có tên gọi là mực nho. Mực nho vẽ được lên vải, lụa, giấy dó, giấy xuyến chỉ và giấy của phương Tây, khi vẽ mực nho có thể dùng bút lông Tàu hoặc dùng bút lông của phương Tây. Các hoạ sĩ thường sử dụng mực nho để ký hoạ, vẽ chân dung, ít khi xây dựng một tác phẩm lớn.
Tranh màu bột:
Màu bột là màu khô ở dạng bột, khi vẽ pha với keo hoặc hồ. Màu bột thường dùng là bột hoá chất, lấy từ các khoáng chất như trong kẽm, lam Cô ban (cobalt) đỏ Camium (Cadmium), vàng Crôm (Chrome)... Màu được nghiền (ít hoặc nhiều tuỳ theo màu) bằng bút lông hoặc pha màu trên bảng pha màu trước khi vẽ. Màu bột khi vẽ có hiệu quả riêng, đậm hơn màu nước, tươi trong hơn màu dầu lại có vẻ mềm mại mát mắt. Màu bột không được vẽ dày quá dễ bị bong tróc hoặc rạn nứt. Màu bột có thể vẽ lên giấy, bìa cứng, vải, gỗ... Nếu vẽ lên giấy mỏng thì phải bồi giấy lên mặt ván phẳng.
Tranh Phấn tiên (Pastel):
Còn gọi là phấn màu, phấn tiên được pha chế sẵn và nén thảnh thỏi dài như lên phấn viết bảng. Màu sắc của phấn tiên không giống màu bột và màu nước, nó có màu sáng, dịu và xốp hơn. Phấn tiên để vẽ tranh có hai loại, phấn khô và phấn dầu, phấn màu khô vẽ lên giấy hơi dày và xốp để màu da bám chất, khi vẽ xong phải phun lên một lớp keo mỏng để tránh rụng phấn và nhòe màu. Phấn màu dầu tiện sử dụng hơn, có thể vẽ lên nhiều loại giấy thông thường, màu bám chắc và có độ bóng. Phấn màu dầu là loại chất liệu thông dụng của học sinh nhỏ: các bé trường mầm non, mẫu giáo.
Ký hoạ:
Vẽ nhanh một hình mẫu trước mắt bằng những đường nét đơn gián, diễn tả được đặc điểm, hình dạng, cử chỉ hoạt động của người, vật, hoặc cánh vật diễn ra trong thực tế. Đối với các hoạ sĩ, ký hoạ là cách lấy tài liệu hay nhất, vừa lưu giữ được những hình ánh sẽ đi qua vừa luyện được kỹ năng linh hoạt trong bút pháp. Bức ký hoạ tốt và sinh động cũng được coi là một tác phẩm hoàn chỉnh.
Tranh Thuỷ mặc:
Tranh có nguồn gốc từ Trung Quốc, ban đầu chỉ dùng mực pha với nước để vẽ lên lụa hoặc giấy, mực và nước theo tỷ lệ khác nhau cho các sắc độ khác nhau nên tranh thuỷ mặc cũng sinh động như tranh màu. Về sau, tranh thuỷ mặc được điểm thêm các màu nhẹ, cũng gọi theo tên ban đầu là tranh thuỷ mặc. Người Trung Quốc sở trường lối vẽ thuỷ mặc do có truyền thống lâu đời. Hoạ sĩ Tề Bạch Thạnh chỉ dùng sắc độ đậm nhạt của mực vẽ những bức tranh Tôm, Cua sống động nhảy nhót như thật. Tranh Thuỷ mặc và thư pháp là nghệ thuật độc đáo và tiêu biểu trong nền văn hoá Trung Hoa.
Tranh thư pháp:
Thuật viết chữ đẹp. Dùng bút lông viết chữ lên nền giấy xuyến chỉ hoặc lụa, diễn tả chữ viết theo góc độ nghệ thuật. Các thể chữ thường dùng để thực hiện một bức thư pháp là Triện, Lệ, Khái (Chân), Hành, Thảo. Tạo nét chữ đẹp, sinh động, sắp xếp các chữ, các dòng chữ theo bố cục truyền thống hoặc sáng tạo, có sức hấp dẫn người xem thì được xem là một tác phẩm thư pháp.Thư pháp khác với một văn bản chép chữ hoặc viết chữ thông thường (như một văn bản hành chính, một trang sách...). Tranh trang trí: Một thể loại tranh ít tạo khối, không diễn tả ánh sáng, ít diễn tả chất, ít chú ý đến bút pháp, rét và hình tượng thường được cách điệu khá trau chuốt. Trong tranh trang trí màu được sử dụng theo dạng phẳng, chủ yếu là biến đổi hình thể cho phong phú, kết hợp với đường nét chọn lọc. Màu sắc trong tranh trang trí thường tươi, sáng, có thể dùng màu nguyên chất, chủ yếu khai thác sự tương phản phong phú của màu sắc và hình thể để gợi lên vẻ đẹp của ánh sáng và không gian trong tranh. Tranh trang trí như đã trình bày là tranh nghệ thuật mang phong cách trang trí, hoặc trong tranh có nhiều yếu tố trang trí. Còn một cách hiểu khác là tranh trang trí là một loại tranh dùng để trang trí cho một địa điểm hay một thời điểm nào đó, để làm đẹp cho một không gian nhất định, như là với mục đích sử dụng cho phù hợp với không gian kiến trúc.
Tranh dân gian:
Tranh có nguồn gốc từ dân gian, do các nghệ nhân và những người thợ ở các làng nghề làm tranh làm ra, có lịch sử lâu đời và phân bố rải rác khắp cả nước. Nổi tiếng hơn cả là tranh làng Đông Hồ, thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh; tranh Hàng Trống, Kim Hoàng ở Hà Nội và tranh làng sình ở xã Phú Mậu huyện Phú Vang (Hương Phú tỉnh Thừa Thiên Huế. Tranh dân gian phục vụ cho nhu cầu tín ngưỡng của người bình dân, nhu cầu làm đẹp nhà cửa trong dịp lễ tết, có vẻ đẹp bình dị chất phác, thường được sản xuất hàng loạt theo lối in khắc gỗ. Đề tài trong tranh dân gian thường là chúc tụng, thờ cúng, cảnh vật, lịch sử, sinh hoạt xã hội, châm biếm đả kích hay tuyên truyền cổ động. Tranh dân gian có đặc tính chung là màu sắc tươi vui đường nét đơn giản, có cái đẹp hồn nhiên. Nhiều bức thư: tranh gà, tranh lợn, thầy đồ cóc, chuột vinh quy... đã trở nên thân quen thú vị, trẻ con, người lớn, bình dân, trí thức khi xem đều thấy thích thú bởi sự giản dị, hóm hỉnh của nó.
Thứ Năm, 14 tháng 8, 2014
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)










































.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)